Mời Quý độc giả CLICK vào liên kết hoặc ảnh bên dưới
mở ứng dụng Shopee để tiếp tục đọc toàn bộ chương truyện!
https://s.shopee.vn/3VcK8c45qS
Tịnh Ngôn Cốc và đội ngũ Editor xin chân thành cảm ơn!
Chương 2
"Lão gia, phu nhân đừng trách Đại tiểu thư. Con từng dắt Bảo Châu đến Tô gia nhưng hôm đó không gặp được người. Nghe nói nàng ấy mới sinh, đang trong thời gian ở cữ, Tô gia sợ nàng ấy kinh động nên không dám cho biết thực tình. Nhạc mẫu của Đại tiểu thư đã cho người gặp con, nói rằng nếu vì tốt cho nàng ấy thì tuyệt đối đừng bao giờ dắt Bảo Châu đến cửa nữa."
"Mấy ngày sau Tô gia đã dời đến Đông Đô rồi. Đại tiểu thư dù có muốn thăm mọi người thì đường xá xa xôi, nàng ấy còn có con nhỏ, làm sao mà quay về ngay được?"
Còn một chuyện ta không nói ra: Khi Đại tiểu thư nghe tin về nhà họ Ôn đã khóc ngất đi hai lần, cô gia đã thừa lúc nàng ấy hôn mê bất tỉnh mà đưa lên thuyền đi gấp.
Đều là người phàm cả, trong lúc nước sôi lửa bỏng thế này, kẻ nào chẳng muốn giữ mình, có gì là sai đâu?
Nói thêm vài câu thì giờ thăm nuôi đã hết. Ta định dẫn Bảo Châu đi, muội ấy khóc lóc đòi dắt cả nhà đi theo, ta phải dỗ dành mãi mới đưa được muội ấy ra ngoài.
Vừa ra ngoài, muội ấy liền khóc hỏi tại sao không thấy Đại ca đâu?
Trong phủ trước nay đâu đâu cũng là truyền thuyết về Đại lang quân: Nào là tướng mạo đẹp như chi lan ngọc thụ, nào là năm làm lễ đội mũ đã đỗ liền ba kỳ khoa bảng, là môn sinh đắc ý nhất của Tống các lão, vị trí Các lão tương lai chắc chắn thuộc về ngài ấy...
Những chuyện khác ta không rõ, nhưng dung mạo thì đúng là không chê vào đâu được, dù sao mẫu thân ngài ấy cũng là một đại mỹ nhân hiếm có trên đời. Một người như thế, giờ lại chẳng rõ sống chết, mất tích không thấy tăm hơi.
Ôn lão gia ngậm chặt miệng không nói, ta biết chuyện này không thể hỏi thêm, đành dắt Bảo Châu về nhà.
Chúng ta thuê chung một khoảng sân với người khác ở phố Đông. Ta và Bảo Châu đến sớm nên chiếm được hai gian phòng phía Đông, một gian để ở, một gian làm bếp. Phía Tây có ba gian là chỗ ở của một gia đình bốn người: tướng công là gã bán hàng rong đầu đường cuối ngõ, nương tử ở nhà chăm con. Gã bán hàng họ Hà, thân cao sáu thước, miệng lưỡi dẻo quẹo; Hà nương tử tuy ít nói nhưng người cực kỳ tốt, đôi tay lại khéo léo, lúc rảnh rỗi thường thêu khăn tay, túi thơm để chồng mang đi bán.
Ta may áo đóng giày còn được, chứ thêu thùa thì mù tịt, lúc rảnh liền để Bảo Châu đi học theo tỷ ấy. Bảo Châu tính tình kiên nhẫn, học hành cũng ra ngô ra khoai. Chút cá thịt tôm tươi ta bán thừa mỗi ngày đa phần đều chui vào bụng Bảo Châu và hai đứa nhỏ nhà họ Hà.
Ngày hôm đó cũng chẳng có gì khác mọi ngày, chỉ là sông Biện Hà đã kết băng, công việc kinh doanh của ta buộc phải dừng lại. Có những khách quen thích ăn món ta làm, ta liền làm tại nhà rồi mang đi giao.
Ăn tối xong, Bảo Châu đã buồn ngủ, đợi muội ấy ngủ say, ta lấy đế giày ra ngồi khâu dưới ánh đèn dầu. Trong chậu than đốt củi nên khói nhiều, ta mở hé cửa sổ một khe nhỏ, định bụng lúc đi ngủ dập lửa, thoáng gió một chút mới dám đóng hẳn.
Năm nay ta đã mười lăm, đi đến đâu cũng được coi là một thiếu nữ lớn rồi. Nghề lênh đênh trên sông Biện Hà không hề dễ dàng như tưởng tượng, lúc nào cũng có kẻ quấy nhiễu, huống hồ ta lại là phận gái dẫn theo một tiểu muội? Nhưng sông nước có quy luật của sông nước, nộp tiền bảo kê xong tự khắc sẽ có người trông nom. Ta không sợ mệt, chỉ sợ rước phải phiền phức.
Tiếng gõ cửa vang lên khiến ta giật nảy mình. Ở chốn Biện Kinh này, ta và Bảo Châu sống nương tựa lẫn nhau, ai lại tìm đến lúc trời tối mịt thế này?
"Ai đó?" Ta lớn tiếng hỏi.
"Ta họ Ôn."
Tiếng người ngoài cửa nén xuống rất thấp, là một giọng nam trầm thấp và êm tai. Họ Ôn? Ta chẳng kịp nghĩ ngợi nhiều, khoác vội chiếc áo bông rồi xuống giường.
Người đó lách mình vào cửa, ta nhanh chóng đóng chặt cửa lại. Người tới quay lưng đứng bên giường nhìn Bảo Châu. Nhà nhỏ, trước giường chỉ có một tấm rèm che, bên trong là phòng ngủ, bên ngoài là phòng khách, nay bị ngài ấy kéo ra nên mọi thứ đều bày ra trước mắt.
Ngài ấy dáng người rất cao, khoác một chiếc áo choàng màu đen huyền, tóc buộc chặt bằng đai ngọc. Ta lờ mờ đoán ra ngài ấy là ai, nhưng không dám hỏi nhiều, chỉ đứng đợi ngài ấy nhìn cho đủ.
Ta thêm củi vào chậu than, đun ấm nước nóng rồi rót cho ngài ấy chén trà. Trà là loại thường ngày ta vẫn bán cho khách trên thuyền, không hẳn là trà ngon nhưng cũng không quá tệ. Đợi ngài ấy kéo rèm bước ra, dưới ánh đèn dầu leo lét, ta mới nhìn rõ toàn bộ diện mạo ngài ấy.
Người trong phủ nói ngài ấy đẹp như chi lan ngọc thụ. Ta lớn bằng ngần này vẫn chưa hiểu chi lan ngọc thụ là cái gì, nhưng hôm nay thấy ngài ấy, ta đã hiểu rồi. Ngài ấy sinh ra trông rất giống phu nhân, chỉ là lông mày rậm và dài hơn, trời sinh một đôi mắt đào hoa, không cười cũng thấy phong lưu đa tình. Sống mũi cao thẳng, môi không quá mỏng, đường xương hàm rõ rệt. Nhìn kỹ dưới môi có một nốt ruồi đen nhỏ, nhưng người thì lại toát ra vẻ thanh lãnh vô cùng.
Vừa lạnh lùng vừa cuốn hút, ba chữ "mỹ nam tử" dung tục kia chẳng đủ để hình dung về ngài ấy. Quan trọng nhất là ngài ấy trắng, trắng lắm.
Ngài ấy còn chưa cởi áo choàng đã ngồi xuống ghế, nâng chén trà ta vừa rót. Đôi bàn tay cũng đẹp đến thế, quả nhiên người đã đẹp thì không tìm ra được một điểm yếu nào. Đồng tử ngài ấy đen thẳm, khi nhìn người khác mang theo vẻ thâm trầm khó đoán khiến người ta lạnh gáy. Nhìn cách ăn mặc, ta thấy ngài ấy không có vẻ gì là sa cơ lỡ vận. Bởi vì dưới lớp áo choàng, chiếc bào trắng ngài ấy mặc là gấm Vân Cẩm — loại gấm "tấc gấm tấc vàng" đúng nghĩa.
Ngài ấy đã không sa sút, tại sao lại không cứu những người khác của nhà họ Ôn? Triều đình nhiều quỷ kế, ta không dám hỏi nhiều, cũng chẳng muốn hỏi, chỉ đứng một bên chờ ngài ấy lên tiếng.
"Điềm tĩnh không nôn nóng, cũng có vài phần can đảm, hèn chi có thể bảo vệ Quỳnh Nương vẹn toàn." Giọng ngài ấy trầm thấp và lạnh lùng.
Ta không dám nhìn thẳng, chỉ cúi đầu không đáp.
"Vật này giao cho ngươi. Ngày mai hãy tìm cách ra khỏi thành, giao nó cho phương trượng Pháp Tuệ ở chùa Kê Minh. Chuyện này liên quan rất lớn, nhất định phải hành sự cẩn thận. Nếu không phải vì hết cách, ta cũng không đến tìm ngươi."
Ban đầu ta không định nhận, nhưng nghe thấy vẻ cấp bách và bất lực trong giọng nói khi ngài ấy bảo "hết cách", ta cuối cùng cũng nghiến răng nhận lấy. Vật đó được bọc trong vải, hình dáng như một cuốn sách, không dày lắm, khi truyền vào tay ta vẫn còn vương hơi ấm từ người ngài ấy.
"Lang quân, mong ngài hãy bảo trọng. Cả nhà họ Ôn vẫn đang mong đợi ngài trong ngục đấy!"
Ngài ấy đứng dậy định đi, ta cuối cùng vẫn không đành lòng, vì Bảo Châu, vì nhà họ Ôn mà nói ra những lời này. Ngài ấy gật đầu, bỗng nhiên nở nụ cười, rực rỡ như ánh nắng ban mai chói mắt.
"Ngươi không sợ nhà họ Ôn và ta đều là người xấu sao?"
"Ta chỉ biết nhà họ Ôn đối xử tốt với ta là đủ rồi."
Nếu không có nhà họ Ôn, ta chẳng biết giờ mình ra nông nỗi nào.
Ngài ấy gật đầu, rồi lách mình biến mất vào bóng đêm.
Chùa Kê Minh bình thường không phải là ngôi chùa mở cửa tự do, mỗi tháng chỉ mở vào ngày mùng một và rằm. Ngày mai không phải mùng một cũng chẳng phải rằm, chỉ riêng việc vào được cổng đã là chuyện khó hơn lên trời, huống hồ còn muốn gặp phương trượng.
Sáng hôm sau, ta gửi Bảo Châu cho Hà nương tử rồi lên núi Kê Lung. Núi Kê Lung tuy gọi là núi nhưng không hiểm trở, ta đã quen làm việc nặng, đi bộ vài bước chẳng là gì. Đến cổng chùa, cửa đóng then cài, bên trong vọng ra tiếng tụng kinh và gõ mõ.